Tin chung Tin chung Công bố kết quả khảo sát quốc gia về tai nạn thương tích tại Việt Nam
Công bố kết quả khảo sát quốc gia về tai nạn thương tích tại Việt Nam

Vừa qua, Lễ công bố kết quả khảo sát quốc gia tai nạn thương tích (TNTT) tại Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội. Tham dự, có Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Doãn Mậu Diệp; Trưởng đại diện WHO, ông Takeshi Kasai; đại diện UNICEF, ông Craig Burgess; đại diện Bộ Y tế, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công an…



 TNTT là một vấn đề sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam với tỷ lệ tử vong và thương tích cao so với các bệnh lây nhiễm và không lây, trong đó, tai nạn giao thông đường bộ và đuối nước là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho cộng đồng Việt Nam. Trong khi những giải pháp lớn ở cấp Chính phủ, các nghị định và chương trình được xây dựng và triển khai, những nỗ lực này vẫn chưa giảm thiểu các trường hợp tai nạn thương tích tử vong và không tử vong một cách bền vững. Để đạt được mục tiêu phòng chống tai nạn thương tích (TNTT) ở Việt Nam trong những năm tới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ ngành liên quan, Trường Đại học Y tế Công Cộng và Mạng lưới nghiên cứu Y tế công cộng Việt Nam, được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như UNICEF, WHO, tổ chức Atlantic Philanthropies đã triển khai Điều tra tai nạn thương tích năm 2010 (VNIS) trên quy mô toàn quốc. Mục tiêu của cuộc khảo này là nhằm triển khai thu thập số liệu với cỡ mẫu đại diện quốc gia để ước lượng các nguyên nhân tử vong, tai nạn thương tích hàng đầu và các yếu tố nguy cơ liên quan tới hành vi và môi trường dẫn đến các nguyên nhân hàng đầu gây TNTT ở Việt Nam.

Ông Phạm Việt Cường, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chấn thương (Trường Đại học Y tế công cộng) cho biết, VNIS 2010 được thiết kế với hai cấu phần: (i) Cấu phần tử vong được thiết kế để xác định các nguyên nhân chính dựa trên nền cuộc Điều tra di biến động dân số Việt Nam năm 2010 (PC 2010). Hoàn cảnh cụ thể của gần 5.000 trường hợp tử vong do TNTT được điều tra chi tiết thông qua công cụ xác định nguyên nhân tử vong bằng phương pháp phỏng vấn do WHO xây dựng và đã được chỉnh sửa phù hợp với Việt Nam. (ii) Cấu phần TNTT là một cuộc khảo sát với cỡ mẫu là gần 50.000 hộ gia đình dựa trên khung mẫu của PC 2010. Các sự kiện TNTT của tất cả các thành viên hộ gia đình, các yếu tố nguy cơ môi trường của TNTT ở cấp độ hộ gia đình và các yếu tố nguy cơ hành vi TNTT của người trả lời trong hộ gia đình được thu thập bằng bộ câu hỏi tiêu chuẩn.
Kết quả phân tích số liệu khảo sát cho thấy, tỷ lệ TNTT do tất cả các nguyên nhân ở Việt Nam là cao, trong đó có 5 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu là tai nạn giao thông, ngã, vật sắc nhọn, động vật tấn công và vật tù/vật rơi. Trong khi đó thì 5 nguyên nhân TNTT không tử vong hàng đầu ở nhóm trẻ em/vị thành niên từ 0-19 tuổi là: tai nạn giao thông, ngã, động vật tấn công, vật sắc và bỏng. Tỷ suất TNTT không tử vong cho tất cả các nguyên nhân, tất cả các lứa tuổi là 2.092/100.000 dân/năm. Với tỷ suất này ước tính mỗi năm cả nước có tới 1,8 triệu trường hợp bị TNTT phải nghỉ học, nghỉ làm tối thiểu 1 ngày hoặc phải cần đến sự chăm sóc của y tế. Với tỷ lệ 36% nạn nhân phải nhập viện tối thiểu 1 ngày, chỉ tính riêng các nguyên nhân TNTT thì hệ thống chăm sóc sức khoẻ của Việt Nam phải đón nhận tới 600.000 nạn nhân do TNTT tới điều trị và nằm viện trung bình là khoảng 10 ngày. Và một thực tế là tỷ suất tử vong do TNTT ở trẻ em và vị thành niên ở nước ta cao gấp đôi tỷ suất tử vong do TNTT ở các nước có thu nhập cao.
Trong số các nguyên nhân TNTT gây tử vong, tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu với tỷ suất là 16,6/100.000. Với tỷ suất này ước tính năm 2010 ở Việt Nam có trên 15.000 trường hợp tử vong do TNGT, con số ngày cao hơn số liệu báo cáo của cảnh sát giao thông và tương đương với số liệu theo dõi của ngành Y tế thông qua sổ tử vong A6. Tai nạn do ngã là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 trong các nguyên nhân TNTT trong các nhóm đối tượng, tuy nhiên sự ảnh hưởng của nó tập trung vào nhóm người cao tuổi (60+). Đuối nước là nguyên nhân TNTT gây tử vong đứng thứ 3 trong cộng đồng nhưng lại đặc biệt ảnh hưởng tới nhóm tuổi trẻ em dưới 19 tuổi và rất cao trong nhóm tuổi 0-4 và 5-9. Có tới 97% các trường hợp TNTT không tử vong là không chủ định, có 2,8% là các TNTT chủ định trong khi đó với các trường hợp tử vong thì tỷ lệ này có thay đổi 4,7% có chủ định và 88% là không chủ định, tuy nhiên cũng có tới trên 7% trường hợp không xác định được rõ yếu tố chủ định hay không. Tử vong do các nguyên nhân TNTT chiếm 12.8% trong tổng số nguyên nhân tử vong trên quần thể và trong tổng số 20 nguyên nhân tử vong hàng đầu thì TNTT chiếm 5 nguyên nhân. TNGT là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 trong toàn bộ các nguyên nhân gây tử vong ở Việt nam và có ảnh hưởng rất lớn tới nhóm tuổi trong độ tuổi lao động. Với các nhóm tuổi khác nhau thì TNTT là nguyên nhân gây tỷ lệ tử vong chiếm một phần đáng kể.

Nghiên cứu VNIS 2010 cũng khẳng định rõ vấn đề TNTT ảnh hưởng đến nhóm giới tính nam cao hơn gần gấp 2 lần so với nữ. Và có sự phân bố tương đối khác biệt của các nguyên nhân TNTT giữa các vùng kinh tế xã hội, thành thị/nông thôn. Phân tích cũng cho thấy có mối liên quan giữa điều kiện kinh tế hộ gia đình và tình trạng mắc TNTT. Theo đó, nhóm trẻ em trong các hộ gia đình nghèo và cận nghèo, trẻ em ở khu vực nông thôn có nguy cơ bị TNTT cao gấp 2 lần so với khu vực thành thị.

Tỷ suất tử vong do TNTT năm 2010 ở Việt Nam là 38.6/100.000, với tỷ suất này ước tính có tới gần 35.000 nạn nhân tử vong do các nguyên nhân TNTT khác nhau ở Việt Nam. Tỷ suất chung này so với tỷ suất 88/100.000 của năm 2001 thì có sự thay đổi rất lớn.

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp đã nhấn mạnh nghiên cứu VNIS 2010 đã đưa ra mô hình TNTT cập nhật cho Việt Nam hiện nay và các số liệu của VNIS 2010 sẽ là những bằng chứng để khẳng định kết quả của các nỗ lực can thiệp của các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương thời gian qua. Đồng thời, cuộc khảo sát này còn cung cấp cơ sở thông tin và số liệu cập nhật và có giá trị để xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động, can thiệp hiệu quả giải quyết tình trạng TNTT nói chung và phòng ngừa TNTT cho trẻ em nói riêng.

 

Bộ LĐTBXH